Total Pageviews

Thursday, September 3, 2020

NHÂN MÙA VU LAN Tìm Hiểu Ðạo Nghiệp Của Ðức Mục Kiền Liên





GS NGUYỄN CHÂU

Ðức Mục Kiền Liên là một trong mười đại đệ tử của Ðức Phật Thích Ca. Gọi là đại đệ tử, là vì thuở Phật Thích ca còn tại thế, hầu hết các người xuất gia theo ngài tu học đều chứng quả A-la-hán. [A-la-hán là quả “Vô sanh” đạt đựợc sau khi tu chứng pháp Tứ Ðế, đoạn Kiến hoặc và Tư hoặc, nghĩa là biết rõ Sinh, Già, Bệnh, Chết không còn bị mê hoặc bởi kiến văn hoặc tư tưởng nữa/ A-la-hán cùng bậc với Thanh Văn]
Kinh sách thường nhắc đến 1,250 vị Tỳ kheo (thiên, nhị bách, ngũ thập), trong đó có mười vị được gọi là đại đệ tử và liệt vào hàng Thánh Chúng do sự ưu tú về mặt đạo hạnh, sở trường và sở chứng; lịch sử Phật giáo ghi nhận như sau:

1.- Xá Lợi Phất          - Trí Tuệ đệ nhất
2.- Mục Kiền Liên     -Thần Thông đệ nhất
3.- Phú Lâu Na          -Thuyết Pháp đệ nhất
4.- Tu Bồ Ðề -Giải Không đệ nhất
5.- Ca Chiên Diên      -Luận Nghị đệ nhất
6.- Ðại Ca Diếp          Ðầu Ðà đệ nhất
7.- A Na Luật             -Thiên Nhãn đệ nhất
8.- Ưu Bà Ly              -Trì Giới đệ nhất
9.- A Nan Ðà              ÐaVăn đệ nhất
10.- La Hầu La          -Mật Hạnh đệ nhất

Mục Kiền Liên là người số 2 trong mười Thánh Chúng luôn luôn cùng vơí Xá Lợi Phất đi theo làm trợ huấn cho Phật trên đường giáo hóa quần sanh. Hai vị này cũng nhiều lần thay Phật đi truyền đao tại một số nước.
Sở trường và sở chứng của Xá Lợi Phất là trí tuệ, nghĩa là khả năng thấy, biết, lãnh hội nhanh chóng, còn Mục Kiền Liên thì có sở trường dứt sạch các phiền não trong thời gian bảy ngày, để đạt mức Thần thông số 1.
Theo thầy Thích Minh Tuệ trong sách “ạPhật và Thánh Chúng” (Sài gòn - 1989), thì “Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ số 1, đứng đầu hàng Thánh Chúng, nhưng nghị lực dứt “kiết sử” không nhanh bằng Mục Kiền Liên. Với các “lậu hoặc” trong thời gian 7 ngày, Mục Kiền Liên đã dứt sạch và đạtÔ thần thông Số 1.
[Lậu: có nghĩa là “lọt qua, rơi vào”. “Lậu hoặc” là các phiền não mê lầm khiến cho con người “rơi lọt” vào trong ba cõi sanh-tử gồm: cõi tham muốn [Dục giới], cõi hiện tượng hữu hình, hữu danh, hữu tướng mà bản ngã con người (cái tôi) bám chặt vào xem như là chân thân [Sắc giới, đứng đầu trong 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân xác và ý thức]; cõi không có hình tượng, dáng dấp nhưng tâm linh tiếp thụ, cảm nhận rồi kết hợp, biến hóa thành yêu, ghét, mừng vui, giận hờn, thù hận, ghen tuông...[ Vô sắc giới].
[Kiết sử: KIẾT là các thứ phiền não ràng buộc thân tâm kết thành đau khổ; SỬ là sai khiến chúng sanh làm cho không ra khỏi sinh, tử. KIẾT gồm có 9 thứ: 1) Ái kiết: say đắm năm điều ham muốn, không rời bỏ; 2) Nhuế kiết: sự giận dữ, bất bình khi gặp nghịch cảnh; 3) Mạn kiết: lòng kiêu căng, ngạo nghễ; 4) Vô minh kiết: mờ ám, không sáng suốt đối với sự chân chánh, không hiểu được bản chất của cuộc đời; 5) Kiến kiết: không tin vào luật nhân quả; 6) Thủ kiết: vọng chấp, khư khư giữ lấy sự hiểu biết không chân chính và các giới pháp sai lầm đưa đến điều ác; 7) Nghi kiết: không có lòng tin vào chân lý, không tu và làm theo hạnh chân chính;
8) Tật kiết: có lòng ganh, ghét các bậc hiền đức, thiện trí thức; 9) San kiết: keo kiết, bủn xỉn, không bố thí mà còn làm điều ác. “Sử” gồm 10 món chia làm hai: 5 món gọi là “Ðộn Sử” và 5 món gọi là “Lợi Sử”. “Ðộn sử” do sự mê đám, yêu và giữ (ái thủ) mà sinh ra; “Lợi sử” do nhận thức vô minh, không sáng suốt mà có. Cả hai thứ này tạo thành phiền não thúc đẩy chúng sanh tác nghiệp trong cõi sinh tử-luân hồi.]

MỤC KIỀN LIÊN VÀ PHÉP THẦN THÔNG


A/ THẦN THÔNG LÀ GÌ?


Thần là phần vô hình trong sinh hoạt của con người, không hoàn toàn tùy thuộc vào thế giới vật chất hữu hình. Thần là sự biến hóa mầu nhiệm có tính cách siêu nhiên, ngườ i thường không thể lường trước được. Tất cả Những gì biến hóa nhanh chóng và ngoài khả năng bình thường của con người, đều được xem là thuộc giới “thần thông”. Ðặc điểm chính của “Thần” là linh thiêng nghĩa là xảy ra ngoài sự tưởng tượng của con người ợ(supernatural power).
Thông là không bị nghẽn, không bị chặn lại (thông cổ, thông đường), thông là xuyên qua được, nghĩa bóng: Thông là hiểu được một cách rốt ráo, tường tận.; thông còn có nghĩa là chuyển từ một chỗ này đến một nơi khác.
Thần thông: là hành động phi thường mà các bậc tu hành đã đắc thủ (đạt được) sau thời gian tu trì, tập luyện. Thần thông giúp cho khả năng nhìn thấy xuyên suốt không gian vô tận và thời gian vô cùng để biết được mọi sự việc, kể cả những gì sâu kín nhất trong tâm thức con người, vạn vật.
Trong Phật giáo có 6 phép Thần Thông gọi là Lục Thần Thông hay Lục Thôngỳ:
1.- Thần Túc Thông: có thể dùng ý nghĩ của mình mà di chuyển thân xác đi chỗ này hay chỗ khác một cách tự tại, nhanh chóng, không cần đến sức lực của thể xác hay phương tiện hữu hình.
2.- Thiên Nhãn Thông: nhìn xa và gần không bị ngăn cách bởi các sự vật, chướng ngạị nào.
3.- Thiên Nhĩ Thông: nghe thấy được mọi thanh âm, tiếng nói khắp mọi nơi, không kể xa hay gần.
4.- Tha Tâm Thông: thông suốt được những ý nghĩ thầm kín trong lòng người khác khi họ bắt đầu suy nghĩ (khởi niệm).
5.- Túc Mệnh Thông: nhìn thấy hết tiền thân, tiền kiếp của chính mình cũng như của kẻ khác.
6.- Lậu Tận Thông: thấu suốt và vượt qua mọi phiền não và dứt được các “nghiệp” và “chướng”, chứng quả Giải Thoát.

Về Tu luyện để đạt phép Thần Thông, theo Phật giáo, có hai cách:

1-      Ðắc thủ được nhờ bản thân đã tu từ nhiều kiếp trước mà thành tựu, bỗng dưng cảm nhận là mình đã có một khả năng thần bí, trường hợp này cũng giống như chư Thiên (Thiên thần) có đủ Năm bậc từ một đến năm, quỷ cũng có thần thông như chư thiên nhưng có phần yếu hơn, về một số mặt nào đó. Ðây là loại Báo Ðắc Thông.
2-      Loại thứ hai là Tu Ðắc Thông, nghĩa là do tu luyện mà có như các vị A-la-hán, nhờ tu Giới, Ðịnh, Tuệ mà đắc sáu phép.- Các vị tu tiên, tu theo giáo phái khác, theo cách tham thiền nhập định, cũng có thể đắc thủ năm phép thần thông ở một mức độ nào đó.
Sách ghi Mục Kiền Liên là vị Thần Thông Số 1. Ông ta đã sử dụng phép thần thông trong mọi tình huống, kể cả khi đi truyền đạo với mục đích chinh phục sự tin tưởng và đi theo của tín đồ. Mục Kiền Liên cũng đã dùng phép thần thông để khuất phục và có khi khống chế người. Ðức Phật đã quở trách ông, nhưng Mục Kiền Liên vẫn đem thần thông làm phương tiện. Chính Mục Kiền Liên đã nhờ thần thông mà cứu được gia đình giòng họ Thích Ca tại thành Ca Tỳ La Vệ khi thành này bị quân Tỳ Lưu Ni vây hãm.
Trên đường truyền đạo, Mục Kiền Liên đã rất ỷ lại vào phép thần thông, cho nên cũng đã gây ra nhiều oán giận, hận thù trong quần chúng. Cũng nhờ phép thần thông mà Mục Kiền Liên biết được thân mẫu đang bị hình phạt ở địa ngục để tìm cách cứu độ bà thoát khỏi khổ hình ngạ quỷ.

B  THẦN THÔNG VÀ ÐẠO GIẢI THOÁT


Có phép thần thông biến hóa thì dễ chinh phục được được lòng tin của con người về những điều mình thuyết giảng, nhưng Ðạo giải thoát của Phật không phải là thần thông. Vì thần thông không có khả năng giải trừ nghiệp lực mà con người đã tạo ra do hành động vô minh tham lam, sân hận trong cuộc đời.
Thật vậy, chính Mục Kiền Liên cũng đã không thể nào cứu được người me thân yêu, nhưng đã tạo ác quá sâu dày, đang bị đọa đày nơi Ðịa ngục, bằng Ðệ Nhất Thần Thông của ông. Và ngay chính bản thân của Mục Kiền Liên cũng đã không thể nhờ thần thông để thắng vượt nghịệp báo tại thành Thất La Phiệt, là nơi ông đến truyền giáo thay cho Phật. Tại đây, Mục Kiền Liên đã dùng phép thần thông để lấn lướt các giáo sĩ khác đạo, khiến cho chúng oán hận và tìm dịp để bức hại ông.
Mục Kiền Liên đã bị phục kích tại lãnh địa nước Y Tư Xa Lê, ngoại thành Thất La Phiệt, trên đường đến truyền giáo cùng với hai đệ tử là Mã Túc và Mãn Túc. Nhóm tu ngoại đạo lõa thể đã bao vây và bất ngờ ném đá xuống như mưa. Phép thần thông đã không thể triển khai kịp để đối phó, nên ông đã bị thương nặng. Sách kể lại, sau khi, bị bọn lõa thể đánh trọng thương, được Xá Lợi Phất lấy cà sa làm võng đưa về tịnh xá, đại chúng hỏi Mục Kiền Liên: “Tôn giả là bậc thần thông, sao lại chịu thua thiệt đến thế?”
Mục Kiền Liên đáp: “Vì bất ngờ, hơn nữa, khi nghiệp lực đến, chỉ một chữ “Thần” còn chưa phát được, huống là chữ “Thông”!”. Dứt lời, Mục Kiền Liên nhập diệt.

C   GIÁ TRỊ CỦA THẦN THÔNG


Phép thần thông chỉ có giá trị đích thực khi giúp người tu hành nhìn thấy xuyên suốt không gian vô biên và thời gian vô tận, để nhận thức rõ mọi sự kiện, mọi vấn đề nội tại trong lòng người, cũng như bên ngoài, để tìm cách cứu độ, hướng dẫn vào con đường thiện phước, chứ không nên dùng như một phương tiện để thuyết phục tín đồ.
Ðạo Phật không nặng về luyện phép thần thông. Câu chuyện “dụ ngôn” sau đây nói lên quan điểm trên:
Chuyện kể rằng: Một hôm, có một vị đạo sĩ Bà La Môn đang trổ tài về thần thông trên bờ một con sông nọ, cho quần chúng xem. Nhìn thấy Phật từ xa đi đến, vị đạo sĩ càng biểu diễn thêm nhiều trò rất kỳ diệu với mục đích khoe tài. Phật hỏi vị đạo sĩ: “Ôạng phải tu luyện bao lâu mới có phép thần thông và đã chứng được quả vị gì?”
Ðạo sĩ đáp: “Tôi đã tu luyện trên ba mươi năm. Khi đạt được thần thông, có thể bay đi tự tại và qua sông không cần đò.”
Phật nói: “Nếu phải đổi một nửa đời người, phải tu luyện để bay qua dòng sông thì thật quá đắt, vì chỉ cần mấy đồng xu qua đò là có thể sang sông”

*
* *
TU VÀ VỌNG NGHIỆP
Cái chết của Mục Kiền Liên là một trường hợp của “ạsinh nghề tử nghiệp”ỳ : Suốt thời gian hành đạo, ông đã dùng thần thông làm phương tiện. Cũng vì thần thông mà Mục Kiền Liên bị ngọại đạo oán thù và ganh tị vì họ không thể làm như Mục Kiền Liên để thu phục tín đồ.
Bản thân Mục Kiền Liên đã ỷ vào phương tiện mình có, cho nên gây nhiều oán thù và khi nghiệp lực đã dấy lên thì khó mà cản lại được. Chính Mục Kiền Liên đã không thể cứu được Mẹ vì nghiệp chướng của bà Thanh Ðề quá sâu dày cần có sự đồng tâm chú nguyện của mười phương tăng chúng. Phép Thần Thông không thể làm gì được đối với tội lỗi của bà Thanh Ðề.
Vậy thì, cần nên nhận thức rằng, phép thần thông không phai là một pháp lực vạn năng. Ngươi tu hành không được lầm cứu cánh với phương tiện. Sư lẫn lộn này sẽ làm cho việc tu trì bị trở ngại. Tu mà còn nghĩ đến việc làm sao cho mau đắc đạo, mong giác ngộ tức thời, ngồi thiền để có thần thông, để có thể bay đi khắp chốn, để có thiên nhãn, thiên nhĩ nhằm có thể nhìn và nghe xa ngàn dặm, để soi tiền kiếp vân vân... thì dường như đây là lốiờ TU theo VỌNG NGHIỆP! Con đường này có thể đem lại cho đời sống con người một số nguy hại về tâm cũng như thân. Người ta thường nói “ngồi thiền”, phải tìm một nơi để ngồi thiền, thật ra, theo các vị Tổ Sư Thiền, thì cần gì phải ngồi mới thiền, đi, đứng, nằm, làm việc... lúc nào cũng có thể thiền cả!

NGUYỄN CHÂU