Total Pageviews

Thursday, September 3, 2020

NHÂN MÙA VU LAN Tìm Hiểu Ðạo Nghiệp Của Ðức Mục Kiền Liên





GS NGUYỄN CHÂU

Ðức Mục Kiền Liên là một trong mười đại đệ tử của Ðức Phật Thích Ca. Gọi là đại đệ tử, là vì thuở Phật Thích ca còn tại thế, hầu hết các người xuất gia theo ngài tu học đều chứng quả A-la-hán. [A-la-hán là quả “Vô sanh” đạt đựợc sau khi tu chứng pháp Tứ Ðế, đoạn Kiến hoặc và Tư hoặc, nghĩa là biết rõ Sinh, Già, Bệnh, Chết không còn bị mê hoặc bởi kiến văn hoặc tư tưởng nữa/ A-la-hán cùng bậc với Thanh Văn]
Kinh sách thường nhắc đến 1,250 vị Tỳ kheo (thiên, nhị bách, ngũ thập), trong đó có mười vị được gọi là đại đệ tử và liệt vào hàng Thánh Chúng do sự ưu tú về mặt đạo hạnh, sở trường và sở chứng; lịch sử Phật giáo ghi nhận như sau:

1.- Xá Lợi Phất          - Trí Tuệ đệ nhất
2.- Mục Kiền Liên     -Thần Thông đệ nhất
3.- Phú Lâu Na          -Thuyết Pháp đệ nhất
4.- Tu Bồ Ðề -Giải Không đệ nhất
5.- Ca Chiên Diên      -Luận Nghị đệ nhất
6.- Ðại Ca Diếp          Ðầu Ðà đệ nhất
7.- A Na Luật             -Thiên Nhãn đệ nhất
8.- Ưu Bà Ly              -Trì Giới đệ nhất
9.- A Nan Ðà              ÐaVăn đệ nhất
10.- La Hầu La          -Mật Hạnh đệ nhất

Mục Kiền Liên là người số 2 trong mười Thánh Chúng luôn luôn cùng vơí Xá Lợi Phất đi theo làm trợ huấn cho Phật trên đường giáo hóa quần sanh. Hai vị này cũng nhiều lần thay Phật đi truyền đao tại một số nước.
Sở trường và sở chứng của Xá Lợi Phất là trí tuệ, nghĩa là khả năng thấy, biết, lãnh hội nhanh chóng, còn Mục Kiền Liên thì có sở trường dứt sạch các phiền não trong thời gian bảy ngày, để đạt mức Thần thông số 1.
Theo thầy Thích Minh Tuệ trong sách “ạPhật và Thánh Chúng” (Sài gòn - 1989), thì “Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ số 1, đứng đầu hàng Thánh Chúng, nhưng nghị lực dứt “kiết sử” không nhanh bằng Mục Kiền Liên. Với các “lậu hoặc” trong thời gian 7 ngày, Mục Kiền Liên đã dứt sạch và đạtÔ thần thông Số 1.
[Lậu: có nghĩa là “lọt qua, rơi vào”. “Lậu hoặc” là các phiền não mê lầm khiến cho con người “rơi lọt” vào trong ba cõi sanh-tử gồm: cõi tham muốn [Dục giới], cõi hiện tượng hữu hình, hữu danh, hữu tướng mà bản ngã con người (cái tôi) bám chặt vào xem như là chân thân [Sắc giới, đứng đầu trong 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân xác và ý thức]; cõi không có hình tượng, dáng dấp nhưng tâm linh tiếp thụ, cảm nhận rồi kết hợp, biến hóa thành yêu, ghét, mừng vui, giận hờn, thù hận, ghen tuông...[ Vô sắc giới].
[Kiết sử: KIẾT là các thứ phiền não ràng buộc thân tâm kết thành đau khổ; SỬ là sai khiến chúng sanh làm cho không ra khỏi sinh, tử. KIẾT gồm có 9 thứ: 1) Ái kiết: say đắm năm điều ham muốn, không rời bỏ; 2) Nhuế kiết: sự giận dữ, bất bình khi gặp nghịch cảnh; 3) Mạn kiết: lòng kiêu căng, ngạo nghễ; 4) Vô minh kiết: mờ ám, không sáng suốt đối với sự chân chánh, không hiểu được bản chất của cuộc đời; 5) Kiến kiết: không tin vào luật nhân quả; 6) Thủ kiết: vọng chấp, khư khư giữ lấy sự hiểu biết không chân chính và các giới pháp sai lầm đưa đến điều ác; 7) Nghi kiết: không có lòng tin vào chân lý, không tu và làm theo hạnh chân chính;
8) Tật kiết: có lòng ganh, ghét các bậc hiền đức, thiện trí thức; 9) San kiết: keo kiết, bủn xỉn, không bố thí mà còn làm điều ác. “Sử” gồm 10 món chia làm hai: 5 món gọi là “Ðộn Sử” và 5 món gọi là “Lợi Sử”. “Ðộn sử” do sự mê đám, yêu và giữ (ái thủ) mà sinh ra; “Lợi sử” do nhận thức vô minh, không sáng suốt mà có. Cả hai thứ này tạo thành phiền não thúc đẩy chúng sanh tác nghiệp trong cõi sinh tử-luân hồi.]

MỤC KIỀN LIÊN VÀ PHÉP THẦN THÔNG


A/ THẦN THÔNG LÀ GÌ?


Thần là phần vô hình trong sinh hoạt của con người, không hoàn toàn tùy thuộc vào thế giới vật chất hữu hình. Thần là sự biến hóa mầu nhiệm có tính cách siêu nhiên, ngườ i thường không thể lường trước được. Tất cả Những gì biến hóa nhanh chóng và ngoài khả năng bình thường của con người, đều được xem là thuộc giới “thần thông”. Ðặc điểm chính của “Thần” là linh thiêng nghĩa là xảy ra ngoài sự tưởng tượng của con người ợ(supernatural power).
Thông là không bị nghẽn, không bị chặn lại (thông cổ, thông đường), thông là xuyên qua được, nghĩa bóng: Thông là hiểu được một cách rốt ráo, tường tận.; thông còn có nghĩa là chuyển từ một chỗ này đến một nơi khác.
Thần thông: là hành động phi thường mà các bậc tu hành đã đắc thủ (đạt được) sau thời gian tu trì, tập luyện. Thần thông giúp cho khả năng nhìn thấy xuyên suốt không gian vô tận và thời gian vô cùng để biết được mọi sự việc, kể cả những gì sâu kín nhất trong tâm thức con người, vạn vật.
Trong Phật giáo có 6 phép Thần Thông gọi là Lục Thần Thông hay Lục Thôngỳ:
1.- Thần Túc Thông: có thể dùng ý nghĩ của mình mà di chuyển thân xác đi chỗ này hay chỗ khác một cách tự tại, nhanh chóng, không cần đến sức lực của thể xác hay phương tiện hữu hình.
2.- Thiên Nhãn Thông: nhìn xa và gần không bị ngăn cách bởi các sự vật, chướng ngạị nào.
3.- Thiên Nhĩ Thông: nghe thấy được mọi thanh âm, tiếng nói khắp mọi nơi, không kể xa hay gần.
4.- Tha Tâm Thông: thông suốt được những ý nghĩ thầm kín trong lòng người khác khi họ bắt đầu suy nghĩ (khởi niệm).
5.- Túc Mệnh Thông: nhìn thấy hết tiền thân, tiền kiếp của chính mình cũng như của kẻ khác.
6.- Lậu Tận Thông: thấu suốt và vượt qua mọi phiền não và dứt được các “nghiệp” và “chướng”, chứng quả Giải Thoát.

Về Tu luyện để đạt phép Thần Thông, theo Phật giáo, có hai cách:

1-      Ðắc thủ được nhờ bản thân đã tu từ nhiều kiếp trước mà thành tựu, bỗng dưng cảm nhận là mình đã có một khả năng thần bí, trường hợp này cũng giống như chư Thiên (Thiên thần) có đủ Năm bậc từ một đến năm, quỷ cũng có thần thông như chư thiên nhưng có phần yếu hơn, về một số mặt nào đó. Ðây là loại Báo Ðắc Thông.
2-      Loại thứ hai là Tu Ðắc Thông, nghĩa là do tu luyện mà có như các vị A-la-hán, nhờ tu Giới, Ðịnh, Tuệ mà đắc sáu phép.- Các vị tu tiên, tu theo giáo phái khác, theo cách tham thiền nhập định, cũng có thể đắc thủ năm phép thần thông ở một mức độ nào đó.
Sách ghi Mục Kiền Liên là vị Thần Thông Số 1. Ông ta đã sử dụng phép thần thông trong mọi tình huống, kể cả khi đi truyền đạo với mục đích chinh phục sự tin tưởng và đi theo của tín đồ. Mục Kiền Liên cũng đã dùng phép thần thông để khuất phục và có khi khống chế người. Ðức Phật đã quở trách ông, nhưng Mục Kiền Liên vẫn đem thần thông làm phương tiện. Chính Mục Kiền Liên đã nhờ thần thông mà cứu được gia đình giòng họ Thích Ca tại thành Ca Tỳ La Vệ khi thành này bị quân Tỳ Lưu Ni vây hãm.
Trên đường truyền đạo, Mục Kiền Liên đã rất ỷ lại vào phép thần thông, cho nên cũng đã gây ra nhiều oán giận, hận thù trong quần chúng. Cũng nhờ phép thần thông mà Mục Kiền Liên biết được thân mẫu đang bị hình phạt ở địa ngục để tìm cách cứu độ bà thoát khỏi khổ hình ngạ quỷ.

B  THẦN THÔNG VÀ ÐẠO GIẢI THOÁT


Có phép thần thông biến hóa thì dễ chinh phục được được lòng tin của con người về những điều mình thuyết giảng, nhưng Ðạo giải thoát của Phật không phải là thần thông. Vì thần thông không có khả năng giải trừ nghiệp lực mà con người đã tạo ra do hành động vô minh tham lam, sân hận trong cuộc đời.
Thật vậy, chính Mục Kiền Liên cũng đã không thể nào cứu được người me thân yêu, nhưng đã tạo ác quá sâu dày, đang bị đọa đày nơi Ðịa ngục, bằng Ðệ Nhất Thần Thông của ông. Và ngay chính bản thân của Mục Kiền Liên cũng đã không thể nhờ thần thông để thắng vượt nghịệp báo tại thành Thất La Phiệt, là nơi ông đến truyền giáo thay cho Phật. Tại đây, Mục Kiền Liên đã dùng phép thần thông để lấn lướt các giáo sĩ khác đạo, khiến cho chúng oán hận và tìm dịp để bức hại ông.
Mục Kiền Liên đã bị phục kích tại lãnh địa nước Y Tư Xa Lê, ngoại thành Thất La Phiệt, trên đường đến truyền giáo cùng với hai đệ tử là Mã Túc và Mãn Túc. Nhóm tu ngoại đạo lõa thể đã bao vây và bất ngờ ném đá xuống như mưa. Phép thần thông đã không thể triển khai kịp để đối phó, nên ông đã bị thương nặng. Sách kể lại, sau khi, bị bọn lõa thể đánh trọng thương, được Xá Lợi Phất lấy cà sa làm võng đưa về tịnh xá, đại chúng hỏi Mục Kiền Liên: “Tôn giả là bậc thần thông, sao lại chịu thua thiệt đến thế?”
Mục Kiền Liên đáp: “Vì bất ngờ, hơn nữa, khi nghiệp lực đến, chỉ một chữ “Thần” còn chưa phát được, huống là chữ “Thông”!”. Dứt lời, Mục Kiền Liên nhập diệt.

C   GIÁ TRỊ CỦA THẦN THÔNG


Phép thần thông chỉ có giá trị đích thực khi giúp người tu hành nhìn thấy xuyên suốt không gian vô biên và thời gian vô tận, để nhận thức rõ mọi sự kiện, mọi vấn đề nội tại trong lòng người, cũng như bên ngoài, để tìm cách cứu độ, hướng dẫn vào con đường thiện phước, chứ không nên dùng như một phương tiện để thuyết phục tín đồ.
Ðạo Phật không nặng về luyện phép thần thông. Câu chuyện “dụ ngôn” sau đây nói lên quan điểm trên:
Chuyện kể rằng: Một hôm, có một vị đạo sĩ Bà La Môn đang trổ tài về thần thông trên bờ một con sông nọ, cho quần chúng xem. Nhìn thấy Phật từ xa đi đến, vị đạo sĩ càng biểu diễn thêm nhiều trò rất kỳ diệu với mục đích khoe tài. Phật hỏi vị đạo sĩ: “Ôạng phải tu luyện bao lâu mới có phép thần thông và đã chứng được quả vị gì?”
Ðạo sĩ đáp: “Tôi đã tu luyện trên ba mươi năm. Khi đạt được thần thông, có thể bay đi tự tại và qua sông không cần đò.”
Phật nói: “Nếu phải đổi một nửa đời người, phải tu luyện để bay qua dòng sông thì thật quá đắt, vì chỉ cần mấy đồng xu qua đò là có thể sang sông”

*
* *
TU VÀ VỌNG NGHIỆP
Cái chết của Mục Kiền Liên là một trường hợp của “ạsinh nghề tử nghiệp”ỳ : Suốt thời gian hành đạo, ông đã dùng thần thông làm phương tiện. Cũng vì thần thông mà Mục Kiền Liên bị ngọại đạo oán thù và ganh tị vì họ không thể làm như Mục Kiền Liên để thu phục tín đồ.
Bản thân Mục Kiền Liên đã ỷ vào phương tiện mình có, cho nên gây nhiều oán thù và khi nghiệp lực đã dấy lên thì khó mà cản lại được. Chính Mục Kiền Liên đã không thể cứu được Mẹ vì nghiệp chướng của bà Thanh Ðề quá sâu dày cần có sự đồng tâm chú nguyện của mười phương tăng chúng. Phép Thần Thông không thể làm gì được đối với tội lỗi của bà Thanh Ðề.
Vậy thì, cần nên nhận thức rằng, phép thần thông không phai là một pháp lực vạn năng. Ngươi tu hành không được lầm cứu cánh với phương tiện. Sư lẫn lộn này sẽ làm cho việc tu trì bị trở ngại. Tu mà còn nghĩ đến việc làm sao cho mau đắc đạo, mong giác ngộ tức thời, ngồi thiền để có thần thông, để có thể bay đi khắp chốn, để có thiên nhãn, thiên nhĩ nhằm có thể nhìn và nghe xa ngàn dặm, để soi tiền kiếp vân vân... thì dường như đây là lốiờ TU theo VỌNG NGHIỆP! Con đường này có thể đem lại cho đời sống con người một số nguy hại về tâm cũng như thân. Người ta thường nói “ngồi thiền”, phải tìm một nơi để ngồi thiền, thật ra, theo các vị Tổ Sư Thiền, thì cần gì phải ngồi mới thiền, đi, đứng, nằm, làm việc... lúc nào cũng có thể thiền cả!

NGUYỄN CHÂU

Sunday, July 19, 2020

PHÂN ƯU




PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn:
Nhạc phụ của Anh Lê Đình Cai tức là thân phụ của Chị Võ Thị Hạ là:

 Cụ Ông VÕ CỪ
Pháp danh Thiện Bích

Nguyên Quản Đốc Trung Tâm Chiêu Hồi Quân Đoàn I và II.
Đã từ trần ngày 17 tháng 7 năm 2020
(Nhằm vào ngày 27 tháng 5 năm Canh Tý)
Tại Regional Medical Center, San Jose, California, Hoa Kỳ.

HƯỞNG THƯỢNG THỌ 96 TUỔI

Xin thành kính phân ưu cùng anh chị Cai Hạ và tang quyến, nguyện cầu hương linh Cụ Ông sớm siêu sinh tịnh độ.

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
*
HỘI ĐỒNG HƯƠNG VÀ THÂN HỮU QUẢNG TRỊ BẮC CALI



Thursday, June 25, 2020

GS NGUYỄN CHÂU: TẾT ĐOAN NGỌ



TẾT ÐOAN NGỌ VÀ NGƯỜI VIỆT










GS NGUYỄN CHÂU

I/  LỄ HỘI VÀ NHỊP NGHỈ NGƠI CỦA CON NGƯỜI

Các nhà xã hội học Pháp đã nói đến ra hai nhịp trong cuộc sống của con người đó là NHỊP LÀM VIỆC và NHỊP NGHỈ NGƠI hay THỜI LAO ÐỘNG và THỜI GIẢI LAO. Nói nôm na thì hai nhịp sống đó là làm việc và nghỉ ngơi. Hai nhịp này thường nối tiếp nhau một cách tất yếu và rất tự phát, nghĩa là khi con người cảm thấy mệt mỏi trong công việc thì có khuynh hướng nghỉ ngơi.
Theo các nghiên cứu y học thì nhịp nghỉ ngơi rất cần thiết trong công cuộc lao động. Vì nghỉ ngơi là để sau đó, có thể tiếp tục làm việc lại một cách đều đặn. Trong lúc nghỉ ngơi, cơ thể có thời gian phục hồi (récupérer) những năng lượng đã mất.

Có lẽ vì đó mà người Pháp gọi giờ nghỉ giữa mỗi buổi học ở các trường là “Récréation”.
 “Recreation” nghĩa gốc là “Tái Tạo.” “Création” là sự tạo ra, sáng tạo nên, ”Re” là tiếp đầu ngữ (préfixe) có nghĩa là “de nouveau” hoặc “again.” Do đó “Ré-creation” có nghĩa là tạo ra lại. Sinh lý học cho biết trong lúc nghỉ ngơi, cơ thể sản tạo ra một số năng lượng mới để bù đắp năng lượng đã mất đi do lao động. Số năng lượng tái tạo này sẽ trang trải cho nhịp làm việc kế tiếp. Nếu không có nhịp nghỉ ngơi này, thì con người hay sinh vật nói chung, sẽ không thể nào tiếp tục làm công việc một cách tích cực hoặc có nhiều hiệu quả được. Có thể so sánh năng lượng của cơ thể con người với năng lượng của một bình điện tích (Battery ố Batterie d’accumulateurs) trong xe hơi. Nó luôn luôn cần “recharge” tức là “nạp lại” nếu không sẽ không còn năng lượng. Tiếng Pháp, thành ngữ “recharger les accus” có nghĩa bóng là “phục hồi sức lực”; tiếng Anh “recharge one’s batteries” ám chỉ một kỳ nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi lại sức khỏe của mình.

“Lao động quá sức” là thành ngữ chỉ sự làm việc nhiều giờ mà không nghỉ ngơi, không “giải lao” hoặc “tẩm bổ” nghĩa là ăn uống những thứ cần cho việc tái sinh năng lượng, tức là lấy lại sức mà làm tiếp công việc.
 Theo các nhà xã hội học và phong tục học, thì chính vì sự cần thiết phải nghỉ ngơi trong quá trình lao động sản xuất, mà các xã hội loài người đều đã bày ra những lễ hội, mục đích tạo nên những dịp vui chơi, hưởng thụ thoải mái để thư giãn thể xác và trí óc... nhờ đó các loại năng lượng cần thiết cho đời sống được phục hồi, được tái tạo. Thông thường, khi con người tham gia vào các lễ hội, hoặc đi du lịch nghỉ ngơi, tâm trí họ rất thoải mái, thể xác thì hoàn toàn tự do, ăn uống, ngủ nghê tùy ý... Sau các dịp lễ hội hoặc chuyền nghỉ ngơi dài, người ta vui tươi trở lại làm việc và dự phóng những cuộc nghỉ ngơi khác trong tương lai.

II/ LỊCH LÀM VIỆC VÀ LỊCH NGHỈ NGƠI TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM

Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều lễ hội quanh năm. Tuy các triều đại không ghi thành luật, nhưng đối với dân gian, thì những “nhịp nghỉ” qua hình thức hội hè, đình đám này đã trở thành “lệ” không thể bỏ đi được. Vì nguyên lý “Phép vua thua Lệ làng” nên nhà cầm quyền không làm thay đổi được các phong tục “ăn chơi trong các lễ hội dân gian”.

 Thật vậy, qua ca dao, người ta thấy dân Việt Nam từ xa xưa, đã có hai cuốn lịch song hành trong năm: một lịch làm việc và một lịch nghỉ ngơi, vui chơi, hội hè.
1.                 Lịch làm việc được ghi như sau:
1.
“Tháng Chạp là tháng trồng khoai
Thánggiêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng
Tháng năm gặt hái đã xong
Nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy...

2.                 Lịch nghỉ ngơi:
2.
“Tháng Giêng là tháng ăn chơi
Tháng Hai cờ bạc, tháng ba hội hè
Tháng Tư đong đậu nấu chè
Ăn tết Ðoan Ngọ trở về tháng Năm.
 Tháng Sáu buôn nhãn bán trăm
 Tháng Bảy, ngày rằm, xá tội vong nhân
Tháng Tám chơi đèn kéo quân...
 Tháng Chín chung chân buôn hồng
Tháng Mười mua thóc bán bông
Tháng Một, tháng Chạp nên công hoàn toàn.”

Việt Nam có ba cái Tết chính: Nguyên Ðán, Ðoan Ngọ và Trung Thu. Tết Nguyên Ðán vào đầu năm âm lịch, đầu mùa Xuân, là Tết lớn và thiêng liêng nhất với nhiều nghi tiết và phong tục. Tết Ðoan Ngọ vào ngày 5 tháng 5 âm lịch (thường gọi là niên trung ngũ nguyệt ố Tết nửa năm) và Tết Trung Thu vào rằm (ngày15) tháng Tám.
 Tết Ðoan Ngọ là một nhịp nghỉ ngơi của nông dân sau khi thu hoạch xong các vụ mùa xuân-hè. Tết Ðoan Ngọ chỉ có một ngày. Nói là “tết” nhưng không nặng về nghi thức cúng bái hoặc xã giao, mà có chỉ ăn uống, chuyện trò, giữ gìn sức khỏe và thực hiện phong tục đi hái một số lá cây về làm thuốc chữa bệnh...
TẠI SAO GỌI LÀ ÐOAN NGỌ?
ÐOAN NGỌ là cái tết truyền thống thứ hai trong năm âm lịch mà hầu hết người Việt Nam đều ăn - đặc biệt là ở nông thôn, trong những người gắn bó với ruộng đồng bằng canh tác và chăn nuôi. Ðây là một dịp để nghỉ xả hơi. Về phương diện thời tiết, Tết nhằm vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch, thuộc tiết Ðại Thử.[ Rất Nóng]
 Tháng năm âm lịch, theo lối tính 12 chi là tháng “Ngọ.” Trên bầu trời đến tháng năm thì chuôi sao Bắc đẩu quay về Ngọ nên gọi tháng năm là “Ngọ nguyệt.”
 Ngày 5 tháng năm gọi là Ðoan Ngo. ỳ Vì chữ “Ðoan” có nghĩa là chính, là thẳng, là mở đầu. Còn gọi là Ðoan Ngũ vì có hai số 5. Người ta còn gọi là Ðoan Dương hoặc Trùng Ngũ. Gọi là Ðoan Dương vì số 5 thuộc dương.

Thời tiết vào dịp mồng 5 tháng năm rất nóng, ở Ðông Nam Á châu (đặc biệt Trung Hoa và Việt Nam) đây là thời điểm khí hậu rất nóng, côn trùng và sâu bọ nở ra nhiều, nông dân cần phải tìm cách trừ diệt để bảo vệ cho sự canh tác, trồng trọt. Có lẽ vì sự kiện này mà người ta con xem Tết Ðoan Ngọ là “ngày giết sâu bọ” (Bắc Phần Việt Nam)
 CÁC SINH HOẠT TRONG TẾT ÐOAN NGỌ
 Tết này đến vào sau vụ mùa. Lúa nếp, bắp đậu, kê khá dồi dào. Nông dân nghỉ ngơi lấy sức. Tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam người ta gọi là “ĂN MÙNG NĂM”
 Người ta đã làm lễ cúng tổ tiên vào giờ Ngọ, và đi hái lá thuốc vào giờ ngọ (khi mặt trời đứng bóng). Vì tin rằng vào lúc giữa trưa ngày mồng 5-5 tất cả các thứ lá cây đều hấp thụ được một loại khí thiên nhiên nào đó và trở thành dược liệu trị được nhiều thứ bệnh thông thường, gọi chung là “Lá Mồng Năm”

Theo cụ Phan Kế Bính, tác giả sách Việt Nam Phong Tục, thì tục đi hái lá thuốc ngày mồng 5 tháng 5 này là do sự tích Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời nhà Tấn (bên Tàu), vào hôm mồng 5 tháng 5, đi vào núi Thiên Thai để hái thuốc, rồi gặp Tiên và không trở về trần gian nữa. Từ đó dân gian bắt chước vào rừng, lên núi hái lá cây về làm thuốc trị bệnh và từ đó thành tục. (sđd, trg 38)
 Vào giữa trưa, đứng bóng (giờ Ngọ) người ta dùng mắt trần nhìn lên mặt trời, vì tin rằng ánh sáng mặt trời vào thời điểm ấy cũng có tác dụng tốt đối với con mắt.

Tại miền Bắc, vào ngày mồng Năm tháng Năm Âm lịch, nhiều nơi có tục lệ ăn trứng luộc, ăn kê (chè) bánh đa (bánh tráng).
Người lớn cả nam lẫn nữ đều uống một chút rượu có hòa một chút hồng hoàng hoặc tâm thần đan gọi là để “giết sâu bọ” (có lẽ sợ vì khí hậu nóng bức quá mà con người hóa cuồng chăng).

Ðối với trẻ con, từ sáng sớm, khi chúng còn ngủ, người ta bôi vào thóp thở (mỏ ác) vào ngực, vào rốn một chút hồng hoàng cũng nói là để “trừ khử trùng”. Nhiều người còn mua “bùa chỉ” ngũ sắc đeo cho con cái. Gọi là “bùa” nhưng thực ra đây là những cái bao nhỏ hình vuông, mỗi cạnh khoảng 2 cm, nhuộm vàng, kết bằng chỉ ngũ sắc (năm màu) có in dấu bùa chú của nhà chùa Phật, nói là để trừ tà ma quỷ quái.

Hồng Hoàng hay Thư Hoàng là một vị đông dược, tên khoa học là “Realgar, Orpiment”, tính chất ấm, cay. là một khoáng thạch có chứa chất A-sen, màu đỏ da cam, dùng để chữa các chứng kinh phong, kinh giật hoặc sốt kéo dài. Dùng bên ngoài thì chữa lở-ngứa, mụn nhọt và chữa các vết do rắn rết hoặc sâu bọ độc cắn.

TÁC DỤNG VÀ LỢI ÍCH CỦA LÁ MỒNG NĂM
 Lá hái vào ngày 5-5 thường gọi là lá Mồng Năm. Người bình dân và người nông thôn thường nấu nước uống hàng ngày, tác dụng đầu tiên là giải nhiệt, tiêu thực...
 Trên nguyên tắc thì bất cứ loại lá nào nếu hái vào đúng giờ Ngọ ngày 5-5 đều là lá thuốc, nhưng thực tế, người ta chỉ quen hái một số lá nhất định ở các rừng hoặc rú mà thôi.
 Chẳng hạn:
 - Lá Ngấy
 - Lá Bướm Bạc
 - Lá Vối
 - Lá Ổi
 - Lá Lốt
 - Lá Bạc Hà
 - Lá Thuốc Cứu (Ngãi Diệp)
 - Lá Nhân Trần
 - Lá Cỏ Xước
 - Lá Vông Vang
 - Bồ Công Anh
 - Ích Mẫu
 - Lá Mã Ðề
 - Lá Mâm Xôi
 - Dây Hà Thủ Ô
 - Lá Dâu
 - Lá Tre (đọt)
 - Lá Sâm Ðất
Về thức ăn hầu hết ba miền Trung, Nam, Bắc VN đều dùng:
 - Thịt vịt
 - Xôi
 - Chè đậu xanh hoặc “Chè Kê lộn đậu”
 - Bánh tro - bánh trôi (Hình tháp nhọn)
 Về phong tục: Tết mồng NĂM - hay Ðoan Ngọ: Các chú rể phải đem lễ vật tết bố mẹ vợ, hoặc tạ ơn.
 Các con nợ ở nông thôn cũng đi tết các chủ nợ tốt bụng đã không gây khó khăn khi họ cần cấp, túng thiếu - những người đã vui vẻ cho tạm vay, tạm đỡ... rồi vụ mùa sẽ tính...
 MỒNG NĂM THÁNG NĂM: NGÀY LOÀI VỊT BỊ THẢM SÁT!
 Tết Ðoan Ngọ hầu hết mọi người thường dùng thịt vịt để làm món ăn chính, vì vậy mà loài vịt bị sát hại tập thể trong ngày này. “Ðại sát giới” này có lẽ không phải tư nhiên hay tình cờ xảy đến, chắc phải có một lý do nào đó.
 Sau đây là một số lý do:
 1- VỊT: tên trong sách thuốc Trung Hoa là “Gia Áp,” có nơi gọi là Gia Phù, cũng còn gọi là Vụ.

 Theo dược lý Ðông y:
 Thịt Vịt có tính chất: mát, ngọt (hơi độc), có tác dụng làm chuyển động phong huyết và làm tăng thêm năng lực, bồi bổ cơ thể cho người lao lực, lao tâm nhiều (gọi là Bổ hư), thịt vịt chữa nóng sốt cao đến co giật (gọi là Sài kinh), vịt giải độc mụn sưng và hạ nhiệt.
 Vịt có lông sắc vàng hoặc trắng thì có tác dụng “Bổ Trung Ích Khí” nghĩa là làm cho những người suy nhược tỳ vị (ăn kém, khó tiêu), bần thần cảm thấy mất sức, mệt mỏi, thiếu dương khí vân vân được phục hồi nguyên khí.
Theo Đông y, trứng vịt vị ngọt, tính mát, có tác dụng “tư âm giáng hỏa”, “thanh nhiệt, hóa đàm” dùng chữa bệnh ho khan (ít đờm) tức là ho do “phế âm hư”. Còn thịt vịt tính hàn có tác dụng “tư âm dưỡng vị”.
 Thông thường VỊT được nấu cháo, làm gỏi. Thịt vịt phải có gừng, không thể thiếu gia vị này. Cầu kỳ và tinh vi hơn, người ta nấu các món như Vịt tiềm với sen, táo, đinh và hồi, hoặc là vịt tiềm với thuốc Bắc. Vịt phải ăn già (thường là từ sáu tháng trở lên).
 Như vậy: Ngày Ðoan Ngọ, khí trời nóng nực (tiết Ðại Thử) nhiệt độ cao nên người ta dùng thịt Vịt mát bổ để tạo quân bình giữa khí Trời và sức Người.
 Thịt Vịt có tính “âm và hàn” ăn vào mát và bổ dương. Và vì thuộc “âm hàn” nên những người “tì vị yếu” tức tiêu hóa kém, nếu không ăn chung thịt vịt với gừng thì sẽ dễ bị đau bụng tiêu chảy hoặc bị lạnh bụng, khó tiêu, nê tì... Do đó, thứ gia vị cần thiết đối với thịt vịt, đó là củ Gừng tươi.
 Tính chất của Gừng: vị cay, khí ấm có tác dụng lợi khí, thông thần (nhai một miếng gừng khi mệt thường có cảm giác thoải mái), hạ đờm, tiêu thực, trừ tà bổ chính.
 Gừng thuộc “dương nhiệt” đi với thịt vịt “âm hàn” thành ra âm, dương, hàn, nhiệt điều hòa thức ăn dễ tiêu và mau hóa thành chất bổ đưỡng...
 Sách Nam Dược ghi nhận: Gừng là thánh dược của các bệnh thuộc về bộ tiêu hóa như: lạnh bụng, tích trệ, ăn không tiêu, ựa hơi
 Thịt Vịt: hàn, khí dương, mát quá có thể làm đau bụng tiêu chảy hoặc tích trệ, ăn không tiêu, do đó cần phải có Gừng dẫn đạo, kết hợp âm dương/hàn nhiệt điều hòa nên ăn vào ngọn bổ mà không có tác hại. Thông thường, thịt vịt thiếu gừng thì ăn chẳng những có hại mà không ngon!
 2- NẾP: tên Trung Hoa là Ðạo Mễ
 Tính chất: Ngọt ngon, tính ấm: Bổ trung Ích thận, chữa đau bụng và yếu tì.
 Như vậy: Xôi là mộỳt thức ăn để bồi bổ sức lực.
 3- KÊạ: tên chữ là Lang Vĩ
 Tính chất: Ngọt, lành làm yên dạ dày, bổ tì vị
 Cũng là một chất để trợ lực cho tiêu hóa
4- ÐẬU XANH: tên chữ là Lục đậu
 Ngọt, lạnh, không có độc tố, vị hơi tanh (hăng)
 Tác dụng: trừ nhiệt, bổ hư, giải độc, lợi thủy, tiêu sảng, mắt sáng tinh.
 Như vậy thì các món mà người Việt Nam dùng không phải là sự tình cờ. Vì trong đó các chất của thiên nhiên được tổng hợp theo nguyên lý âm dương hàn nhiệt để các chất bổ dưỡng dễ hấp thụ vào cơ thể. Chắc người xưa đã có nghiên cứu rất bài bản, nhưng bài bản mất mát hư hao chỉ còn truyền lại bằng miệng, bắt chước nhau kiểu “xưa bày nay làm” mà thôi, nhưng rất tinh vi và hữu hiệu.

**
***

Trong lịch sử Trung Hoa, Ngày mồng Năm thắng Năm âm lịch là ngày giỗ của ông Khuất Nguyên, một vị quan chính trực của nước Sở, vua Hoài Vương, thời Xuân Thu. Khuất Nguyên đã nhảy xuống sông Mịch La, tự trầm, vì Sở Hoài Vương không nghe lời can gián của ông.

Chuyện Khuất Nguyên:
 Khuất Nguyên tên là Bình, cùng họ với vua nước Sở, làm chức Tả Ðô đời Sở Hoài Vương – Ông là người học rộng, nhớ lâu, thấy rõ nguyên lý của bình trị và loạn lạc, và giỏi về hành chánh – Ông thường vào cung cùng vua bàn việc nước và ban bố các lệnh, bên ngoài thì tiếp đãi quốc khách, ứng đối với các chư hầu, rất được nhà vua rất tin dùng.
Thời đó, đồng liêu của Khuất Nguyên, Ðại Phu Thượng Quan cũng muốn được vua tin yêu, nên sinh ra ganh ghét tài năng của Khuất Nguyên. Một hôm, Sở Hoài Vương sai Khuất Nguyên làm pháp lệnh. Khuất Nguyên đang soạn thảo, Ðại Phu Thượng Quan muốn cướp lấy - Khuất Nguyên không cho, Thượng Quan bèn gièm với vua rằng:
 “Bệ hạ sai Khuất Bình làm pháp lệnh, không ai là không biết. Mỗi khi lệnh ban ra Bình lại khoe công nói: “Ngoài ta ra, chẳng ai làm nổi.”
 Nhà vua giận, bỏ Khuất Bình không tin dùng nữa, cách chức và đày Khuất Nguyên đến Trường Giang, vùng biên giới phía Nam nước Sở.
 Khuất Nguyên bực tức, vì vua không phân biệt phải trái, nghe lời gièm pha của kẻ gian, khiến cho người ngay không có chỗ dung thân. Khuất Nguyên lo nghĩ nhiều, rồi sáng tác khúc Ly Tao, nội dung diễn tả nỗi buồn chia ly, oán thán sự bất trí, bất công của Vua.
 Bị thất sủng, Khuất Nguyên đi lang thang dọc bờ sông Mịch La, vừa đi vừa hát, hình dung tiều tụy, sắc mặt thiểu não. Lão đánh cá trên sông hỏi tại sao quan Tam Lư Ðại Phu lại ra nông nỗi này?
 Khuất Nguyên than rằng:
 “Thế nhân giai túy, nhi giai trọc
 Duy ngã độc tĩnh, nhi độc thanh”
 (Người đời ai cũng say cả, nên đều đục
 Chỉ có một mình ta tỉnh, nên ta trong).

Lão đánh cà nói: “Thánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tùy thời. Có phải đời đục cả, sao ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục theo một thể? Loài người say cả, sao ông không biết ăn cả men, hùp cả bã cho say theo một thể? Việc gì mà phải phòng xa, nghĩ sâu cho đến nỗi phải phóng khí?

Khuất Nguyên nói: “Tôi nghe: mới gội đầu tất phải chải mũ; mới tắm tất phải thay áo; có đâu lại chịu đem cái thân trong sạch mà để cho vật dơ bẩn dính vào mình được? Thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác vào bụng cá, chớ sao đang trắng lôm lốp, lại chịu để vấy phải bụi dơ.
Lão đánh cá nghe xong cười tủm tỉm, vừa chèo thuyền quay đi vừa hát:
“Sông Tương nước chảy trong veo
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta;
Sông Tương nước đục chảy ra
Thì ta lội xuống để mà rửa chân...”
Năm 270 trước Công Nguyên, được tin quân Tần chiếm Ảnh Đô của nước Sở, đau lòng trước cảnh nước mất, Khuất Nguyên ôm một tảng đá lớn, nhảy xuống sông Mịch La tự tử. Hôm đó là mồng Năm tháng Năm…Dân trong vùng chèo thuyền, hụp lặn tìm kiếm… nhưng không thấy. Ông lão đánh cá lấy cơm thả xuống sông gọi là cúng Khuất Nguyên. Vế sau, cứ đến mồng 5 tháng 5, âm lịch, dân trong vùng làm bánh hình tháp nhọn, quấn chỉ ngũ sắc, thả xuống sông để giỗ Khuất Nguyên. Làm bánh tháp nhọn quấn chỉ năm màu nói là để cá sợ không ăn.

Sau khi Khuất Nguyên đi rồi - vua nước Sở vì tin lời đường mật của gian thần, đem lòng tham đất đai của nước Tần, nên bị mất nước.
Lòng tự ái ngu xuẩn đã khiến cho Hoài Vương khốn đốn, chạy đến đâu cũng không được người che chở, giúp đỡ. Còn Khuất Nguyên tuy bị vua bỏ nhưng vẫn để lòng lo cho nước Sở, vẫn nghĩ đến Sở Hoài Vương. Cụ Nguyễn Công Trứ, một thi sĩ và danh tướng Việt Nam cuối thế kỷ 19, trong bài thơ “Vịnh Khuất Nguyên đã” viết:
 “Giòng Mịch La dù đục đục, trong trong
  Ðèn bất dạ hãy soi người thiên cổ!
Bát ngát buổi giang thiên dục mộ
Tiếng ngư ca còn đồng vọng đâu đây
Nghĩ tình ai cũng xót vay.”

Ý nói tấm lòng trung nghĩa của Khuất Nguyên sẽ được người đời kính phục.

Người Việt Nam ăn Tết Ðoan Ngọ, nhưng rất ít người biết chuyện Khuất Nguyên và tâm sự của ông ta. Người Trung Hoa thường giỗ Khuất Nguyên vào dịp Đoan Ngọ, còn người Việt thì chỉ ăn Tết Ðoan Ngọ theo tập tục riêng của mình./.

NGUYỄN CHÂU (2020)

Tham khảo thêm: Sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trần, ghi: “Thịt vịt chữa các chứng bệnh tiểu tiện bất lợi, nhiệt bệnh, hư lao; bổ ngũ tạng và thủy đạo. Nên chọn các loại vịt đực đầu xanh hoặc vịt lông trắng, xương đen, mỏ đen càng tốt.”

Sau đây là 2 bài thuốc cụ thể:
- Chữa ho khan do phế âm hư: Dùng 10 g mộc nhĩ rửa sạch, thái nhỏ, tráng với 2 quả trứng vịt; khi chín cho thêm 50 g đường phèn, hấp cách thủy cho tan đường ra, ăn nóng.
- Hỗ trợ điều trị lao phổi và ung thư: Thịt vịt già hầm lên ăn. Món ăn này có khả năng tăng cường khả năng miễn dịch cho người bệnh.
Lưu ý:
- Do thịt vịt có tính hàn, tác dụng bổ âm nên những người dương hư tỳ nhược, ngoại cảm chưa khỏi hẳn, tạm thời không nên ăn.
- Không ăn thịt vịt với mộc nhĩ, chao đậu, thịt ba ba, thịt rùa đen.
- Không ăn trứng vịt với thịt ba ba, quả dâu, quả mận.
(BS Nguyễn Ninh Hải, Sức Khỏe & Ðời Sống)